Con ngựa thành Troy của Christopher Nolan không phải là một pho tượng khổng lồ sừng sững bên bờ biển Troy. Nó đang chìm. Ngập một nửa dưới nước, trông nó giống một sai lầm hơn là một tượng đài, một vật tế thần đang bị đại dương nuốt chửng. Bên trong, những người lính bẩn thỉu ép mình sát vào vách gỗ. Họ thở qua những ống hút khi nước dâng cao, im lặng chờ đợi quân Troy kéo con ngựa qua những bức tường thành kiên cố. Đó là một hình ảnh táo bạo, ngay cả với Nolan – nhà làm phim thành công nhất trong việc kết hợp tầm nhìn nghệ thuật với sức hút thương mại ở kỷ nguyên hiện đại.
“Nếu con ngựa lún sâu vào cát và sắp bị thủy triều cuốn trôi, người Troy sẽ không bao giờ tin rằng có ai đó ở bên trong,” Nolan nói khi đang rót trà Earl Grey tại văn phòng khiêm tốn của công ty sản xuất Syncopy. “Họ sẽ giải cứu vật phẩm này khỏi những con sóng và kéo nó vào thành phố như một chiến lợi phẩm. Nó sẽ không có bánh xe như một đôi giày trượt patin đâu.”
Ông đã mơ về hình ảnh con ngựa gục ngã này không phải cho bản chuyển thể The Odyssey mà cho một bộ phim hoàn toàn khác. Nolan từng đàm phán để đạo diễn phim Troy năm 2004 dựa trên sử thi Iliad, nhưng thỏa thuận thất bại. Tuy nhiên, trong hơn 20 năm, Nolan đã mang theo tầm nhìn này qua thành phố Gotham, qua không gian vũ trụ bao la, và qua vùng Los Alamos. Năm 2023, Oppenheimer – bộ phim tiểu sử dài 3 tiếng về nhà vật lý khủng hoảng hiện sinh vì bom nguyên tử – đã thu về gần 1 tỷ USD và giành 7 giải Oscar. “Điều đó cho tôi những lựa chọn,” Nolan nói. “Và một điều chưa từng thực sự được thực hiện là kể lại câu chuyện The Odyssey bằng điện ảnh với tất cả khả năng của một dự án quy mô lớn từ Hollywood. Đó là một khoảng trống kỳ lạ trong lịch sử điện ảnh.”
Dự kiến ra mắt vào ngày 17/7/2026, The Odyssey theo chân người anh hùng Hy Lạp – “kiến trúc sư” đứng sau con ngựa thành Troy – trên hành trình 10 năm tìm đường về nhà sau chiến tranh. Odysseus phải đối mặt với gã khổng lồ một mắt, quái vật biển và phù thủy biến đàn ông thành thú vật, tất cả được thực hiện với tối thiểu CGI và tối đa tham vọng. Đây là bộ phim điện ảnh đầu tiên được quay hoàn toàn bằng máy quay IMAX, mang lại quy mô gây kinh ngạc.

Nhưng suy cho cùng, đây là một bài nghiên cứu về nhân vật: Chỉ cần trói Matt Damon (người đóng vai Odysseus) vào cột buồm thật và giong buồm đi ngang qua các nàng Siren là đủ. Nhưng trong phiên bản của Nolan, Damon còn phải thể hiện một cuộc khủng hoảng hiện sinh khi những nàng Siren đó “phân tâm học” anh qua tiếng hát. Giống như con ngựa thành Troy, The Odyssey có thể được thưởng thức như một cảnh tượng thuần túy – hoặc có thể được “mổ xẻ” để hé lộ những điều sâu sắc về con người. “Kịch bản rất cụ thể về những gì ông ấy đang làm,” Damon nói. “Ông ấy rất trung thành với Homer vì đó không phải là tác giả mà bạn có thể viết lại. nhưng về mặt chủ đề, những gì ông ấy khai thác thực sự thú vị.”
Hollywood đang ở một vị thế bấp bênh. Các rạp chiếu phim đang vật lộn để phục hồi sau đại dịch, và các siêu anh hùng không còn đạt phong độ như trước. Nhưng những đạo diễn như Ryan Coogler, Greta Gerwig, Jordan Peele và Denis Villeneuve đang chứng minh rằng chính họ cũng có sức hút lớn như các ngôi sao điện ảnh. Thậm chí trong số đó, phim của Nolan đã đạt đến vị thế hiếm hoi: một sự kiện không thể bỏ lỡ. Giống như các đồng nghiệp, ông mang đến những câu chuyện thông minh, hình ảnh tuyệt mỹ và dàn diễn viên hạng A. Nhưng ông cũng xây dựng những cốt truyện phức tạp với các chi tiết ẩn giấu được thiết kế để lôi kéo khán giả quay lại rạp nhiều lần.
Những tấm poster đầu tiên của The Odyssey không in hình các ngôi sao, mà chỉ có tên của Nolan bằng chữ in đậm. “Có một vài đạo diễn hiện nay có thể yêu cầu sự chú ý của khán giả trong việc đến rạp xem phim,” Donna Langley, chủ tịch NBCUniversal, người đã bật đèn xanh cho dự án, chia sẻ.
Đó là lý do tại sao con tàu chở Odysseus và thủy thủ đoàn phải thực sự có khả năng đi biển – không chỉ để chống chịu những đợt sóng dữ của Địa Trung Hải vào đầu xuân, mà còn để căng buồm từ Morocco đến Hy Lạp rồi sang Ý khi đoàn phim di chuyển bối cảnh. Đó cũng là lý do tại sao nhà quay phim Hoyte van Hoytema đã lắp đặt hàng trăm bóng đèn LED di động để mô phỏng chính xác nhiệt độ màu của ánh lửa, giúp Nolan có thể ghi hình từ bất kỳ hướng nào trong cảnh đột kích thành Troy lúc nửa đêm. Và đó cũng là lý do diễn viên Bill Irwin, người từng lồng tiếng và điều khiển rối cho robot trong Interstellar, đã được thuê để dẫn dắt diễn xuất cho nhân vật người khổng lồ một mắt (Cyclops) thần thoại.
Với Damon, đây là trải nghiệm xứng đáng nhất trong sự nghiệp của anh. “Những bộ phim như thế này không còn được thực hiện nữa. Làm điều này mà không cần đến phông xanh, theo cái cách mà David Lean từng làm, tôi không biết ai ngoài Chris còn đang nỗ lực thực hiện điều đó,” anh chia sẻ. “Cũng không có nhiều người ở độ tuổi ngoài 50 được đóng vai chính trong những bộ phim sử thi như vậy. Tôi đã coi đây như bộ phim cuối cùng mà mình thực hiện.” Thực tế sẽ không phải vậy. Nhưng chúng ta có thể thấu hiểu cho sự kịch tính đó. Thật khó để tưởng tượng anh hay bất kỳ ngôi sao điện ảnh nào có thể một lần nữa thực hiện một bộ phim theo phong cách cổ điển với tầm vóc lớn đến nhường này.
Theo lời đồn, Nolan là một nhân vật đầy trang trọng, một vị đạo diễn dòng phim tác giả kiểu “hộp giải đố”, thực tế và chuẩn mực trong chiếc áo gile phẳng phiu, với một bình trà giấu gọn trong túi áo khoác. Có lẽ điều đó đến từ những bộ phim của ông, với cốt truyện lắt léo và đôi khi gây bối rối. Có lẽ vì ông điều hành phim trường với một hiệu suất khủng khiếp đến mức đáng gờm. Hoặc cũng có thể vì ông là người cực kỳ kín tiếng. (Tôi đã được yêu cầu không mô tả văn phòng của Syncopy. Những gì tôi có thể nói là chú chó của gia đình Nolan sẽ rúc vào khách tới thăm nếu nó nghi ngờ họ có mang theo đồ ăn).

Thế nhưng, suốt gần hai giờ đồng hồ bên ba tách trà bốc khói, vị đạo diễn vốn nổi tiếng là người kỵ “spoil” này lại cởi mở một cách bất ngờ. Khi tôi chạm đến những ranh giới mà tôi e là sẽ khiến ông khó chịu, ông chỉ nhún vai, nói “Cũng hợp lý thôi,” rồi chân thành đào sâu vào những quyết định sản xuất từng khơi mào cho hàng ngàn bài viết trên Reddit. Mỗi khi tách của tôi sắp cạn, ông lại lạch cạch đẩy xe trà đến rót đầy. Khi tôi lỡ làm đổ, ông trấn an tôi trong lúc tay vẫn đang thấm dọn chỗ trà thừa.
Nghe ông so sánh các bản dịch The Odyssey của Emily Wilson, E.V. Rieu và Robert Fagles, tôi cảm thấy mình không giống đang phỏng vấn một đạo diễn, mà giống như đang ngồi trong giờ tư vấn với một giáo sư cực kỳ dễ gần. Ông đã nghiên cứu rất kỹ thời kỳ này, và bộ phim cũng nhận thức rất rõ về thời điểm lịch sử của nó: Cuộc chiến thành Troy đánh dấu sự kết thúc của Kỷ nguyên Đồ đồng, và Hy Lạp chuẩn bị chìm vào một thời đại bóng tối của những vương quốc sụp đổ và sự thất lạc của chữ viết.
Ông cũng đã nghiên cứu kỹ văn bản và đưa ra vài lựa chọn chuyển thể đầy ấn tượng. Argos, chú chó trung thành của Odysseus, đã được đôn từ vai khách mời lên thành một vai phụ có sức nặng. Odysseus và con trai Telemachus (Tom Holland) – người mang trên mình gánh nặng về huyền thoại của một người cha mà anh không hề nhớ mặt – có nhiều thời gian bên nhau hơn. Circe, vốn là một nhân vật mang tính hình mẫu trong phiên bản của Homer, nay được cập nhật đầy tính nhân văn nhờ màn trình diễn gây bất an nhưng cũng đầy cảm thông của Samantha Morton.
Và cuộc đoàn tụ giữa người bạn cũ của Odysseus là vua Menelaus (Jon Bernthal) với người vợ Helen (Lupita Nyong’o) – người phụ nữ đẹp nhất thế giới, bị đổ lỗi cho việc khơi mào chiến tranh sau khi bị một hoàng tử thành Troy đưa đi – vốn luôn mang cảm giác được giải quyết quá êm đẹp trong sử thi. Nolan đã làm nó trở nên phức tạp hơn. Và trong một bước ngoặt thú vị, Nyong’o cũng đảm nhận luôn vai chị gái của Helen là Clytemnestra, người có cuộc hôn nhân với anh trai của Menelaus là Agamemnon (Benny Safdie) mà nếu nói một cách nhẹ nhàng nhất thì là cực kỳ gay gắt.
Sự tận tâm của Nolan dành cho nhân vật không chỉ dừng lại trên những trang giấy. Ông nổi tiếng với việc từ bỏ chiếc ghế đạo diễn để ưu tiên việc đứng gần các diễn viên. “Khi bạn thấy không thoải mái và hầu như lúc nào bạn cũng thấy vậy về mặt thể xác do tính chất khắc nghiệt để có được những thước phim này, nếu bạn quay đầu nhìn lại, ông ấy chỉ đứng cách đó không quá 5 bộ (khoảng 1,5m) và cũng đang chịu đựng điều tương tự mà không một lời phàn nàn,” Damon chia sẻ. “Có cảm giác rất tuyệt khi mình là một người lính dưới hầm hào, ngước nhìn lên và thấy vị tướng đang đứng ngay sát bên cạnh.”
Damon đã phải chịu đựng những điều kiện quay phim khắc nghiệt nhất: bị xịt vòi rồng vào người, đi bộ đường dài lên Lâu đài Santa Caterina mỗi ngày ở Sicily, và ướt sũng dưới mưa khi quay các cảnh ở Hades trong những đêm trắng tại Iceland. “Mọi người cứ hay đùa rằng, ở mỗi địa điểm quay, bạn sẽ nghĩ: chà, địa điểm tiếp theo chắc sẽ dễ thở hơn thôi, vì thông thường trong mọi bộ phim luôn có những khoảnh khắc áp lực được giải tỏa. Nhưng ở đây thì không. Nó diễn ra không ngừng nghỉ,” anh chia sẻ.
Anh đã rất nhẹ nhõm khi đến được một bãi biển ở Morocco để thực hiện những cảnh quay cuối cùng – thiên đường cát trắng nơi Odysseus gặp gỡ tiên nữ Calypso (Charlize Theron). “Hóa ra đó lại giống như thủ phủ của môn lướt ván diều trên thế giới vậy,” anh nói. “Gió thổi mạnh khủng khiếp. Cát cứ thế quất thẳng vào mắt chúng tôi. Và tuyệt nhiên không có cách nào để chúng tôi có thể ngăn được những trận cuồng phong cát đó.”
Nolan hoàn toàn có thể dàn dựng những cảnh đó trong phim trường. “Tôi vốn nổi tiếng với việc không thích hiệu ứng hình ảnh (VFX). Nhưng bạn biết đấy, các bộ phim của tôi đã giành được ba giải Oscar cho hạng mục này,” ông nói với một tiếng cười. “Tôi hiểu rất rõ về VFX và thực sự bị nó lôi cuốn. Nhưng tôi muốn tạo ra những bộ phim với tông nền chân thực nhất.”
Bản năng đó đã bén rễ từ sớm. Nolan sinh năm 1970, có cha là một giám đốc quảng cáo người Anh và mẹ là một tiếp viên hàng không kiêm giáo viên tiếng Anh người Mỹ. Ông đã dành những năm tháng tuổi thơ luân chuyển giữa trường nội trú ở Anh và vùng Evanston, Illinois (Mỹ). Ông đem lòng yêu định dạng IMAX khi xem các bộ phim tài liệu tại rạp chiếu phim vòm cao 5 tầng của Bảo tàng Khoa học và Công nghiệp Chicago. Em trai ông, Jonathan, sau này đã trở thành cộng sự đắc lực trong các kịch bản như Memento, The Prestige và The Dark Knight.

Nolan gặp Emma Thomas vào ngày đầu tiên tại Đại học College London (UCL). Họ cùng nhau điều hành câu lạc bộ điện ảnh và sau khi tốt nghiệp, họ đã tự bỏ tiền túi để thực hiện bộ phim điện ảnh đầu tay, Following, với một ngân sách ít ỏi. Ngay từ lúc đó, Nolan đã bộc lộ năng khiếu giải quyết vấn đề: ông quay phim gần cửa sổ vì không có tiền thuê đèn; ông đưa cho kẻ sát nhân một cây búa vì cho rằng súng đạo cụ trông không thật.
Tham vọng của ông cứ thế lớn dần theo thời gian. “Khi chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật, ông ấy đã say sưa nói về việc quay phim bằng máy quay IMAX,” Emma Thomas chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi. “Và theo thời gian, ông ấy đi từ việc quay thử một cảnh duy nhất trong The Prestige bằng IMAX cho đến những phân đoạn dài trong The Dark Knight, rồi cứ thế mở rộng và mở rộng hơn nữa.”
The Dark Knight đã định nghĩa lại khái niệm về một bộ phim siêu anh hùng, rũ bỏ chất kịch nghệ để trở thành một tác phẩm hình sự đầy gai góc; với bảng màu lạnh, vị anh hùng u uất và một kẻ phản diện vô chính phủ, bộ phim đã đổ bóng xuống thể loại này trong suốt nhiều thập kỷ. Nolan dành phần lớn sự thành công của mình cho những cộng sự thân thiết. Dễ thấy nhất là các diễn viên như Damon hay Anne Hathaway – người thủ vai Penelope, người vợ mưu trí của Odysseus trong tác phẩm này.
Nhưng đằng sau ống kính, phần lớn đội ngũ nòng cốt của ông đã gắn bó từ những ngày đầu. Thomas, người đã có cùng Nolan bốn người con, là nhà sản xuất cho mọi bộ phim của ông. “Emma là một người bạn tuyệt vời, cô ấy thường xuyên tổ chức tiệc mừng đầy tháng cho mọi người và tự tay nướng tất cả bánh trái; cô ấy cũng là một người mẹ tận tụy đến kinh ngạc, bất kỳ ý tưởng nào của Chris, cô ấy chính là người đảm bảo rằng nó có thể trở thành hiện thực,” Hathaway chia sẻ. Thomas thừa nhận cô có chút “lo lắng” khi đọc những phân cảnh kinh hoàng trên biển, nhưng khẳng định với tôi rằng: “Khi anh ấy đòi hỏi cả thế giới mà chúng tôi không thể đáp ứng được, anh ấy luôn có một kế hoạch dự phòng.”
Vị đạo diễn cũng đã hợp tác với van Hoytema trong 5 trên tổng số 13 bộ phim của mình. “Mỗi khi bắt đầu một dự án, chúng tôi lại nhìn nhau và nói: ‘Sẽ tuyệt vời biết bao nếu chúng ta làm toàn bộ phim này bằng định dạng IMAX nhỉ?’” van Hoytema chia sẻ. “Và ở bộ phim cuối cùng này, tôi nghĩ chúng tôi đã giải được mã đề đó.”
Họ đã làm được điều này bằng cách hợp tác với IMAX để giải quyết ba vấn đề lớn. Đầu tiên, tiếng máy quay kêu rất lớn – Damon từng ví nó như việc cố gắng diễn xuất với một chiếc máy xay sinh tố đặt ngay sát mặt – vì vậy họ đã chế tạo một lớp vỏ bọc quanh máy quay gọi là “blimp” để giảm thiểu tiếng ồn trong những cảnh quay gần và nhiều đối thoại.
Thứ hai, các ổ phim (magazine) của máy quay IMAX khá ngắn nên phải thay phim thường xuyên; vì vậy họ đã xây dựng một quy trình mà ở đó toàn bộ đoàn phim sẽ giữ im lặng tuyệt đối để các diễn viên có thể, theo cách nói của van Hoytema, “giữ vững tâm thế”.
Và cuối cùng, chiếc máy quay đã trở nên quá đồ sộ đến mức các diễn viên không thể nhìn thấy nhau xung quanh nó. “Điều này dĩ nhiên là tồi tệ đối với một diễn viên, vì bạn không thể diễn tương tác với người mà bạn đáng lẽ phải nhìn thấy,” van Hoytema nói. Giải pháp của họ là: một hệ thống gương cho phép các diễn viên có thể nhìn vào mắt nhau khi diễn xuất.
Một chiếc trực thăng đã được huy động để cẩu chiếc máy quay nặng 400 pound (khoảng 180kg) cùng lớp vỏ bọc tiếng ồn lên những sườn núi dốc đứng. “Đây là một dự án sản xuất vô cùng tham vọng,” bà Langley cho biết. “Họ đã phải đối mặt trực diện với thời tiết và các yếu tố khắc nghiệt của thiên nhiên.”
Thậm chí, một thảm họa suýt chút nữa đã xảy ra khi các nhân viên hải quan Scotland mở các hộp đựng phim IMAX ra, đe dọa làm hỏng những cuộn phim chưa sử dụng do bị lộ sáng. (May mắn thay, số phim đó vẫn an toàn.) “Về cơ bản, mọi thứ đều đã diễn ra tốt đẹp,” bà Langley nói. “Chris là một nhà làm phim rất có trách nhiệm… Ông ấy luôn giảm thiểu rủi ro, chuẩn bị kỹ lưỡng và thuê một đội ngũ có khả năng thực thi công việc ở cấp độ cao nhất.”
Nolan và đoàn làm phim đã ghi hình tại sáu quốc gia khác nhau để phác họa lại hành trình của Odysseus. Những điều kiện khắc nghiệt chính là mục đích của ông. Nolan từng cân nhắc việc tuyển diễn viên để đóng vai các vị thần phóng sét từ đỉnh Olympus, nhưng cuối cùng ông quyết định chọn một hướng đi nguyên sơ hơn.
“Tôi trở nên hứng thú với ý tưởng rằng đối với những người ở thời kỳ đó, minh chứng về các vị thần ở khắp mọi nơi,” ông nói. Vào thời Hy Lạp Đồ đồng, sấm sét, mưa rơi hay mặt trời mọc không có những lời giải thích khoa học, chúng đại diện cho ý chí của các vị thần bất tử. “Điều tuyệt vời ở điện ảnh, và đặc biệt là IMAX, là bạn có thể đưa khán giả vào một không gian đắm chìm, cảm thấy gần gũi với các hiện tượng như bão tố, biển động, hay những cơn gió lớn. Bạn muốn khán giả được ở trên con thuyền đó cùng họ, sợ hãi đại dương, sợ hãi cơn thịnh nộ của Poseidon giống như cách các nhân vật cảm nhận. Đối với tôi, điều đó mạnh mẽ hơn nhiều so với bất kỳ hình ảnh cá nhân cụ thể nào về một vị thần.”
Bất chấp danh tiếng là một người có tầm nhìn xa trông rộng, Nolan vẫn tiếp thu các ý kiến đóng góp từ hãng phim. “Tôi nghĩ ngày mà chúng tôi ngừng nhận góp ý cũng là ngày chúng tôi làm ra một bộ phim dở tệ,” Thomas nói. “Việc có những người đặt câu hỏi buộc bạn phải thực sự lý giải được những gì mình đang làm mang lại lợi ích về mặt sáng tạo. Chúng tôi cũng muốn hãng phim cùng tâm huyết với bộ phim của mình. Chính họ là những người phải bán nó ra thị trường.”
Nolan chưa bao giờ để phim vượt quá tiến độ hay ngân sách, kể cả với bộ phim này, tác phẩm ông chỉ quay trong đúng 91 ngày, sớm hơn dự kiến 9 ngày. “Anh ấy giống như một cỗ máy khi bước vào giai đoạn ghi hình,” Thomas chia sẻ. “Rất buồn cười là: khi đang viết kịch bản, nếu chúng tôi đi bộ đường dài, anh ấy sẽ nói: ‘Đừng đi nhanh quá’. Nhưng ngay khi bắt đầu quay, nhịp tim của anh ấy tăng lên. Anh ấy đột nhiên trở thành một con người hoàn toàn khác. Anh ấy di chuyển cực nhanh.”
Hathaway khẳng định rằng sự tiết kiệm của Nolan chưa bao giờ gây ảnh hưởng xấu đến diễn xuất. Nó chỉ gây ảnh hưởng đến “cái tôi” (ego) mà thôi. “Họ dành tiền để đưa lên màn ảnh,” cô nói. “Bạn có Tom Holland, Robert Pattinson, hàng loạt diễn viên thực lực khác và cả tôi nữa, nhưng tất cả chúng tôi đều ở trong những nhà nghỉ bình dân trên một hòn đảo nhỏ ở Sicily vì ở đây không có chỗ cho những thứ phù phiếm, nuông chiều bản thân. Tất cả chỉ vì công việc, và chúng tôi đều cảm thấy rất hạnh phúc khi được ở đó.”
Trong góc studio của nhà soạn nhạc từng ba lần giành giải Oscar, Ludwig Göransson đặt một chiếc đàn lia có kích thước gần bằng một người trưởng thành, cách đó một phòng là chiếc bàn bóng bàn có thể biến mất xuống sàn nhà chỉ bằng một nút bấm. Đối với Göransson và Nolan, cái cổ đại và cái hiện đại chưa bao giờ cách biệt quá xa.
Nolan đã chỉ thị cho Göransson không sử dụng dàn nhạc giao hưởng trong phần nhạc phim, cốt để phá vỡ những kỳ vọng thường thấy đối với một bộ phim thể loại sử thi cổ đại. “Dàn nhạc giao hưởng vốn đâu có tồn tại vào thời kỳ đó,” Göransson nói. “Đó là một thử thách và cũng là cơ hội để cố gắng tạo ra điều gì đó độc nhất vô nhị.”
Thay vào đó, Göransson đã thuê 35 chiếc chiêng đồng với đủ kích cỡ khác nhau, thử nghiệm, ghi âm chúng cùng với nhạc cụ điện tử (synths) và bắt đầu gửi các bản nhạc cho vị đạo diễn. Nolan cũng đưa rapper Travis Scott vào phim trong vai một người hát rong (bard). “Tôi chọn cậu ấy vì muốn gợi nhắc đến ý tưởng rằng câu chuyện này vốn được truyền lại dưới dạng thơ ca truyền miệng, một hình thức tương tự như rap,” Nolan chia sẻ. Thậm chí, nhạc cụ dây cũng đóng một vai trò đầy bất ngờ. “Chris đã nảy ra ý tưởng biến âm thanh của đàn lyre thành tiếng bật dây cung của Odysseus,” Göransson cho biết.
Nolan tự hào nói về mức độ nghiên cứu chuyên sâu của tất cả các bộ phận trong quá trình sản xuất, đặc biệt là khi kiến thức của chúng ta về Kỷ nguyên Đồ đồng chỉ dựa trên “những hồ sơ khảo cổ rất manh mún”. Khi trailer phim ra mắt, những người say mê lịch sử cổ điển đã phàn nàn về bộ giáp của Agamemnon – nó tối màu, bóng loáng và gợi nhớ đến bộ giáp Batsuit của Nolan.
Nhưng những gì một số người coi là viễn tưởng thì Nolan lại bảo vệ rằng đó là điều khả thi. “Có những con dao găm của nền văn minh Mycenae được làm bằng đồng đen. Giả thuyết cho rằng họ có thể đã biết cách làm đen đồng vào thời đó. Bạn lấy đồng, thêm vào nhiều vàng và bạc hơn rồi sử dụng lưu huỳnh,” Nolan giải thích. “Với Agamemnon, Ellen [Mirojnick], nhà thiết kế trang phục của chúng tôi, đang cố gắng truyền tải vị thế cao quý của ông ta so với những người khác. Bạn thực hiện điều đó thông qua những chất liệu cực kỳ đắt đỏ.”
Nolan cũng đưa ra những lời giải thích kỹ lưỡng tương tự cho mọi lựa chọn sản xuất, từ những con thuyền cho đến vũ khí, tất cả đều được lấy cảm hứng từ cả Kỷ nguyên Đồ đồng lẫn thời đại của Homer, vốn cách nhau hàng trăm năm. “Những mô tả cổ xưa nhất về các nhân vật của Homer thường có xu hướng được thể hiện theo phong cách của những người sống ở thời đại của chính Homer,” ông nói. “Vì vậy, có một cơ sở khá vững chắc để khắc họa mọi thứ theo cách đó, bởi đó cũng là cách mà những khán giả đầu tiên tiếp nhận câu chuyện này.”
Ông là người ám ảnh với tính xác thực. Năm 2014, ông từng chia sẻ với tạp chí này về những gì cần thiết để đảm bảo tính chính xác cho các nguyên lý vật lý trong Interstellar. Ông cũng mang một tôn chỉ tương tự đến với The Odyssey. “Với Interstellar, bạn đang xem xét xem ‘đâu là giả định tốt nhất về tương lai?’. Khi nhìn về quá khứ cổ đại, mọi chuyện cũng hoàn toàn tương tự. ‘Đâu là giả định tốt nhất và làm thế nào tôi có thể sử dụng điều đó để tạo ra một thế giới?’”. Ông biết rằng cách tiếp cận này sẽ không làm hài lòng mọi nhà nghiên cứu cổ điển. “Hy vọng họ sẽ thích bộ phim, ngay cả khi họ không đồng ý với mọi chi tiết,” ông nói. “Chúng tôi từng nhận nhiều phàn nàn từ các nhà khoa học về Interstellar. Nhưng bạn chỉ đơn giản là không muốn mọi người nghĩ rằng mình đã thực hiện nó một cách hời hợt.”
Bất kể các chuyên gia có nghĩ gì về Interstellar, Damon chưa bao giờ khóc nhiều hơn thế khi đọc một kịch bản. “Chris và tôi bằng tuổi nhau, con cái chúng tôi cũng xấp xỉ tuổi nhau,” anh nói. “Khi tôi đọc kịch bản đó, tôi đang ở xa các con để đóng phim. Nó nói về một người cha đã bỏ lỡ toàn bộ tuổi thơ của con mình. Tôi đã gọi cho ông ấy ngay sau đó và hỏi: ‘Có chuyện gì giữa ông và [ý tưởng] này vậy?’”. Nolan, theo lời anh kể, “chỉ cười nhẹ.”
Trong phim (Interstellar), Damon hóa thân vào vai một phi hành gia lừng lẫy, người vì bị bỏ rơi và tuyệt vọng mà suýt chút nữa đã hy sinh cả nhân loại để cứu lấy bản thân mình. “Cậu ấy không đóng vai một kẻ lừa đảo hay gian lận,” Nolan nói. “Cậu ấy đóng vai một người thực sự tin vào những gì mình đang làm. Matt có thể đưa khán giả vào góc nhìn đó, cùng dấn thân vào hành trình với nhân vật, cùng phạm sai lầm với nhân vật mà không phán xét nhân vật đó.”

Nolan nghĩ rằng điều đó thật hoàn hảo cho vai Odysseus. Vị anh hùng trong sử thi Homer mà hầu hết chúng ta nhớ từ thời trung học là một kẻ mưu mẹo đứng sau con ngựa thành Troy. Nhưng ông ta cũng là kẻ ngạo mạn và xảo trá. Một dòng trong bản dịch của Emily Wilson đã tóm gọn con người này: “Odysseus kẻ dối trá đáp lời: ‘Tôi sẽ kể cho ông toàn bộ sự thật.’”
Đối với Nolan, một trong những điều khó khăn nhất khi chuyển thể The Odyssey là trong tập sử thi trước đó – The Iliad, Odysseus chỉ đóng một vai trò tương đối phụ. “Rất nhiều đặc điểm của Odysseus có thể rất đáng ngưỡng mộ ở một nhân vật phụ, như một chút khôn lỏi, một chút bóng bẩy; nhưng khi người hùng của bạn cũng như vậy, điều đó không phải lúc nào cũng hiệu quả,” ông nói. “Có lý do mà trong Star Wars, bạn có Han Solo, nhưng bạn cũng cần có Luke Skywalker – một hình tượng anh hùng thuần khiết và minh bạch hơn. Vì vậy, thử thách ở đây là phải trung thành với sự phức tạp của Odysseus nhưng vẫn làm cho nhân vật này trở nên gần gũi với khán giả.”
Điều thúc đẩy Odysseus – và thôi thúc khán giả ủng hộ ông – chính là tình yêu dành cho vợ mình. Penelope đã chờ đợi suốt 20 năm ròng rã cho một người chồng mà tất cả những người khác đều nghĩ là đã chết. Bà đã xoay xở để liên tục vượt mặt 108 kẻ cầu hôn đang âm mưu tán tỉnh mình, sát hại con trai bà và chiếm đoạt ngai vàng của Odysseus. Hathaway đã rất ngạc nhiên và thích thú khi đọc kịch bản của Nolan và thấy rằng vị hoàng hậu này không chỉ ngồi yên một chỗ và khóc lóc.
“Thường có một ấn tượng về Penelope rằng bà ấy là biểu tượng của sự khiêm nhường và kiên nhẫn,” Hathaway nói. “Và tôi đã bảo: ‘Chris này, nếu tôi không lầm thì ông đã viết nên một người phụ nữ đầy phẫn nộ, và ông dường như đang ngụ ý rằng bà ấy thực sự là người ngang hàng với Odysseus.’” Nàng Penelope này không chỉ tương xứng với chồng về trí tuệ mà còn cả về sự mãnh liệt. “Tôi thấy bà ấy giống như một ngọn núi lửa luôn âm ỉ cháy trong lòng. Thật sự rất thú vị khi cuối cùng bà ấy cũng bùng nổ.”
Hathaway và Damon đã cam kết với quan điểm rằng The Odyssey là một câu chuyện tình yêu. “Matt đã kết hôn với tình yêu của đời mình, và tôi cũng vậy. Tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều nhìn nhận mối quan hệ của mình với một sự trân trọng và biết ơn nhất định, bởi vì hầu hết mọi người không tìm thấy được hạnh phúc như thế trong hôn nhân, chưa nói đến việc cả hai đều là diễn viên,” Hathaway chia sẻ. “Vì vậy, chúng tôi tiếp cận mối quan hệ giữa Odysseus và Penelope với sự thấu hiểu rằng: ừ, đôi khi bạn thực sự sẽ gặp được tri kỷ của đời mình.”
Damon biết rằng một vài cảnh quay mà anh và Hathaway thực hiện tại Los Angeles sẽ đóng vai trò quyết định trong việc giúp khán giả thực sự tin vào mối quan hệ của họ. “Khi chúng tôi đóng máy tại L.A., Chris đã nói với tôi rằng: ‘Giờ thì quyền tự quyết nằm trong tay chúng ta rồi’ (ngụ ý phần cốt lõi đã xong, chỉ cần không làm hỏng những phần còn lại),” Damon kể. “Chúng tôi vẫn còn phải đi quay ở Iceland, Scotland và những cảnh về Calypso trên bãi biển hoang mạc. Nhưng chúng tôi biết mình đã nắm giữ được cái lõi cảm xúc của bộ phim.”
Nolan vốn không thích việc quảng bá phim; ông ví việc thảo luận trước về cốt truyện giống như việc lén nhìn trộm quà Giáng sinh vậy. Trong thế giới lý tưởng của ông, “các đạo diễn nên được ẩn danh” để tác phẩm có thể tự lên tiếng. Thế nhưng, một khi đã bắt đầu nói về The Odyssey, ông dường như không thể dừng lại, vui vẻ trò chuyện vượt xa cả thời gian dự kiến ban đầu.
The Odyssey có thể coi là bộ phim lớn nhất trong sự nghiệp của Nolan, mặc dù, trái với những gì đã được đưa tin trước đó, Emma Thomas đính chính: “Đây không phải là bộ phim đắt đỏ nhất của chúng tôi, nhưng quy mô của nó thực sự khổng lồ.” Đây cũng có thể là “bom tấn” mùa hè mà ngành công nghiệp giải trí đang gặp khó khăn hiện nay đang thực sự cần. “Đó là một câu chuyện mang tính toàn cầu đã tồn tại hàng ngàn năm,” bà Langley nhận định. “Điều đó, cộng với cái tên Christopher Nolan và những giá trị mà ông mang lại cho điện ảnh – vốn đã được khẳng định là rất lớn, cùng dàn diễn viên toàn sao, đã tạo nên một canh bạc thương mại vô cùng xứng đáng và vững chắc.”
Nhưng bộ phim cũng mang lại cảm giác như một sự đúc kết tinh túy. Nolan nhận thức được rằng mình làm rất nhiều phim về những người đàn ông kiệt xuất đang nỗ lực tìm đường về với gia đình. Khi tôi hỏi liệu ông có lo lắng về phản ứng của người hâm mộ khi lặp lại một số mô típ nhất định hay không, ông dừng lại và thở dài. Mặc dù không dùng điện thoại thông minh, nhưng thế giới internet vẫn tìm thấy ông. “Bạn phải cảm thấy thoải mái với việc lặp lại chính mình, nếu điều đó đúng đắn cho dự án,” ông nói. “Nếu bạn quá chú ý đến những gì người ta đang chỉ trích trong tác phẩm của mình, bạn sẽ bị tê liệt mất.”
Một khi bạn biết rằng Nolan đã mơ về một bản hùng ca của Homer suốt hàng thập kỷ, thật khó để không nhận ra rằng hành trình của Odysseus đã luôn ám ảnh mọi bộ phim mà ông từng viết kịch bản và đạo diễn: Những người đàn ông được chiêu mộ để hy sinh cá nhân cho một đại nghĩa (Batman Begins, Interstellar, Dunkirk, Tenet, Oppenheimer); những người cha mòn mỏi khao khát được trở về với con cái (The Prestige, Inception, Interstellar); và những cấu trúc tự sự đứt gãy, lặp lại xuyên qua thời gian (trong hầu hết các phim của ông).
Thậm chí, khi nhìn lại, một số cảnh quay nhất định trông như những buổi “tổng duyệt”: Bruce Wayne, khi được cho là đã chết, lẻn về Gotham trong Batman Begins hệt như cách Odysseus lén lút đột nhập vào Ithaca; những người lính thầm lặng bị dồn ép trong một con thuyền bỏ hoang ở Dunkirk, khi những viên đạn của lính Đức xuyên qua thân tàu, chính là tiếng vang của những người Hy Lạp đang nín thở bên trong con Ngựa thành Troy khi một ngọn giáo đâm vào lớp gỗ. Homer mô tả Odysseus là một người đàn ông của “những ngã rẽ và những bước ngoặt”. Phim của Nolan, nếu không phải là thế, thì chẳng là gì cả.
Trong thời gian chuẩn bị cho ngày ra mắt bộ phim, Nolan vẫn thực hiện một lộ trình tản bộ quen thuộc: đi ngang qua nhà hàng Margaritaville và Bubba Gump Shrimp tại Universal CityWalk để vào rạp IMAX, nơi ông được thưởng thức tác phẩm của mình trên một quy mô mà ông hằng mơ ước. “Tôi nghĩ khi mình đăng ký thực hiện dự án Troy từ rất lâu về trước, tôi đã hơi quá sức,” Nolan chia sẻ. “The Odyssey là một câu chuyện có tầm vóc choáng ngợp… Tôi nghĩ mình cần phải bồi đắp từ những gì đã học được khi thực hiện các bộ phim quy mô lớn để có thể thực hiện tác phẩm này.”
Giống như người anh hùng của chúng ta, Nolan cũng đã mất 20 năm để tìm được đường trở về.
*Bài viết kỳ công trên tờ tạp chí Time nơi chân dung của Nolan được đặt trên trang bìa.
*Bài viết được dịch nhờ công cụ Gemini.



